Đăng nhập
web counter
- thietbiso.net.vn
 Chi tiết bài viết
Văn Hóa-Giải Trí | Văn Học - Nghệ Thuật (17:20 ngày 10/06/2019) | Xem ( 3761)

Chuyện cũ làng quê – P27: Nạn đói thế kỷ

Đói, đói nghèo triền mien là căn bệnh đời đời, kiếp kiếp trước đây. Trong thế kỷ hai mươi đã xảy ra hai trận đói ác liệt nhất.Nạn đói thứ nhất xảy ra vào năm Mậu Ngọ, Khải Định năm thứ ba (1918).Nạn đói thứ hai xảy ra vào năm Ất Dậu, Bảo Đại thứ hai mươi (1945).Hai nạn đói lại vào hai năm kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai.

Nạn đói năm Mậu Ngọ lúc tôi chưa ra đời, chỉ nghe kể lại, cũng thật khổ cực vô cùng. Chỉ nghe thấy câu vè dân gian kể lại:

Cực tình ta lắm giời ơi!

Ông vua Khải Định bỏ rơi dân ta!

Duy Tân tức vị(1) thái hòa

Bước sang Mậu Ngọ dân ta khổ nào

Giấy sức về tổng Bích Hào

Bao nhiêu phu mộ cũng nhào mà đi

Những buổi ra ri….thậm tình cơ khổ….

Bài vè chỉ biết khóc than, khen vua Duy Tân, trách vua Khải Định đã để xảy ra nạn đói ghê gớm trong năm Mậu Ngọ (1918)

Trong bài này chỉ dám nhắc đến nạn đói Ất Dậu (1945) mà bản than tôi đã trải qua. Đến giờ phút này tôi vẫn cảm thấy bang hoàng khủng khiếp khi nghĩ lại nạn đói đó. Khó có thể hiểu nổi nạn đói kéo dài thế mà nhà tôi thoát khỏi thần chết.

Những hình ảnh của nạn đói ở xứ Ruwanda tận bên Châu Phi trong năm 1994, trên truyền hình, chúng ta đã nhin thấy một con kền kền đang chờ, chuẩn bị xé thây một em bé trần truồng ngoắc ngoải dưới nắng bỏng Châu Phi. Tội vạ gì mà em bé phải chịu một cái chết mà người Việt Nam chỉ dùng để nguyền rủa kẻ đại ác "cái chết diều tha quạ mổ”. Mấy năm gần đây, cũng qua đài truyền hình ta được chứng kiến bao trận lụt bão bên các nước Trung Hoa, Vênêzuêla, Ấn Độ, cùng những trận động đất kinh hoàng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Trong nước ta, thời gian qua xẩy ra những trận lụt lớn ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Ninh Thuận, Bình Thuận.Gần đây nhất, hai trận lụt xẩy ra ở miền Trung nước ta. Tổn thất nhiều đấy, mất mát nhiều đấy, chết choc nhiều đấy, nhưng tổng số người mất đi trong các trận lụt ở ta nghe chưa tới con số nghìn. Số người chết do các trận lụt và động đất ở các nước ngoài chưa đến con số vạn. Bởi chưng ngày nay có các nước cưu mang, gửi


hàng giúp đỡ. Ở trong nước thì có Đảng, Nhà nước chỉ đạo kịp thời, nhân dân cả nước và có kiều bào nước ngoài gửi tiền về giúp đỡ, gọi là lá lành đùm lá rách, rách ít bọc rách nhiều.

Còn nạn đói năm 1945 đã cướp mất hai triệu sinh linh, gần bằng một phần mười dân số nước ta lúc bấy giờ.Tỉnh nào cũng đói cả, hỏi lấy ai giúp ai. Còn nước ngoài lúc bấy giờ đang lao vào chiến tranh thế giới. Hơn nữa, họ biết nước Việt Nam ở đâu mà giúp.Bọn quân phiệt Nhật Bản thì nói đầu miệng giả dối. Mà chính nạn đói khủng khiếp này là do bọn chúng gây ra. Để chuẩn bị chiến tranh, chúng bắt dân nhổ lúa đi để trồng đay.Có người chống lại đã bị chúng đánh chết tươi ngay đầu chân ruộng.Cả bọn Pháp đến bọn Nhật đều tích trữ lương thực để chuẩn bị chống nhau, thóc gạo càng khan kiệt.Chúng còn dùng thóc đốt ra làm than chạy tàu.

Quê tôi, nhiều nhà thiếu ăn từ trước tết. Những lũy tre xanh cứ chặt ra, vác đi bán dần.Những lùm cây cao bóng mát cũng biến thành những gánh củi, gánh ra chợ bán lấy tiền đông gạo.Người mua gạo ngày càng nhiều, người bán gạo ngày một bớt dần.Thành thử một gánh củi bán đi trước được bốn bữa ăn, nay chỉ được nửa bữa. Bán hết các thứ ngoài vườn, dần dần bán vào các thứ trong nhà như cái sập, cái bàn….thậm chí đến cả cái chum tương, vại nhút, bán tống bán tháo, rẻ hơn bèo vẫn phải bán để lấy tiên mua cái gì tống vào cái bụng đói khép kẹp.

Đi sâu vào trong làng, cảnh tượng hoang vắng đến rợn cả người, vắng hẳn tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, tiếng lợn kêu ủn ỉn.Bởi các sinh vật đó đổi thành gạo hết rồi, còn đâu?

Người lớn còn chút sức lực vào rừng tìm đào củ mài.Củ mài là của trời cho kẻ nghèo, nhưng đào mãi cũng phải hết.Đi sâu vào rừng vài chục cây số cũng chẳng còn mà đào. Có lần cha tôi cùng 4 người trong xóm là ông Ý, ông Tý, ông Cới, ông Niệm đi suốt hai ngày trong rừng sâu, tối phải ngủ lại giữa rừng, lúc đó còn nhiều hổ, gấu. Chiều hôm sau về, mỗi người được vài củ dài bằng cái bút, nhỉnh hơn ngón chân cái.Không đầy một tháng sau đó, trong năm người chỉ còn sót lại có hai.

Bọn con nít chúng tôi, một số ít đi ở chăn trâu bò cho người giàu có, còn bao nhiêu là rủ nhau đi mót, vào các trại tìm lá mưng (lá lộc vừng) mà hái, tìm rau má mà nhổ, rau má là thứ trời cho tuyệt vời. Ăn rau má vào yên bụng, không bị đau bụng như ăn rau tàu bay, không bị đi ngoài như ăn cây khủa(2), không bị rủi bụng như ăn rau lang.

Bọn con nít còn rủ nhau đi tát bắt hết từng con chạch, con lươn nhỏ, con ốc, con hến…rồi các loại này hết dần, sinh nở sao kịp


Đi ra đường ra chợ, đầy người ngửa tay ăn xin. Xin ai bây giờ?Ai cũng đói lả ra cả. Một số người đi xiêu xiêu vẹo vẹo, chập chờn như những bóng ma, tay chân gầy đét, hình như chẳng còn chút thịt, chỉ còn da bọc xương. Mặt mày hốc hác, chỉ còn lại hai hố mắt với hai hàm rang nhô ra trên khuôn mặt gầy vêu. Oái ăm thay, năm đó lại rét quá. Chả trách người ta nói đói rét, đói kèm theo với rét, chịu sao cho thấu.

Không những thiếu gạo, khoai, thiếu cái ăn, mà lại còn thiếu cái thức ăn mặn nữa, vì người ta nói dân làm muối chết đói quá nhiều rồi. Người ta phải chở muối cục từ Lào sang gọi là muối mỏ.

Suốt cả nạn đói làng tôi có ba lần phát chẩn.Ai tổ chức ra phát chẩn?Nghe người lớn nói thì nhà giàu ở các làng khác về làng mình phát chẩn. Mỗi lần phát chẩn họ cho tôi miệng cái đọi đàn(3) bằng ba hay bốn lạng gì đó. Tôi không giám vào lần thứ hai, vì tôi cầm tinh con sứa, nhát gan, sợ họ phát hiện ra họ đánh chết.Mấy đứa trong xóm tôi gan lắm, nhiều đứa vào lần thứ hai, có đứa vào lần thứ ba hay bốn lần.Tội nghiệp có đứa bị phát hiện, bị đánh chảy máu.

Nhớ lại, hôm ấy ngày tế Thành hoàng làng.Tế lễ xong, tất cả xôi thịt được mang về nhà lý trưởng để chia phần.Không giám để ngoài đình như những năm trước, vì sợ những kẻ nghèo đói vào cướp hết. Nhưng đã là miếng ăn lúc đói, trốn đâu cho thoát. Những người nghèo đói cũng đến đầy sân nhà Lý trưởng. Bọn Lý, Hương, đám tuần đinh đuổi đánh tơi bời. Ôi tội nghiệp cho những con người chỉ da bọc xương. Đói ắt phải túng, túng ắt phải liều.Đánh thì mặc kệ, thất xôi, thấy thịt, them quá, họ cứ xông vào cướp. Bọn chức trách phải xua con chó rất hung giữ của Lý trưởng ra cắn họ. Khổ thay cho em bé trạc mười, mười một tuổi, bị chó cắn vào đùi, máu tươi chảy ra thấm ướt cái quần đùi rách bươn. Bọn chức trách còn reo lên cười đắc chú: "A! Con chó rứa mà được việc”. Thằng bé kêu trời, kêu đất. Thấy mà khủng khiếp. Tôi định liều vào đánh con chó, cứu cậu bé, nhưng lúc đó tôi cũng đói meo, đâu còn sức. Những người nghèo đói sợ hãi quá, phải lùi ra xa.Đã đói lả ra còn bị chó cắn chảy hết máu. Nghe đâu chỉ sau hai ngày cậu bé này đã giã từ cuộc đời.

Nhìn cảnh nơi đây mà khiếp sợ, tóc tôi như dựng đứng lên, nổi da gà rợn cả người, trước những cảnh tượng thương tâm.Đối với những người quá yếu đuối, bọn Lý Hương không goám đụng đến. Chẳng phải họ thương tình, mà vì sợ con người ta chết thì họ bị vạ lây. Số người trong đám cướp xôi hôm đó, về sau cứ chết dần chết mòn hết trong nạn đói đó.


Lại một nơi khác tập trung khá nhiều người nghèo đói.Một cảnh tượng nổi lên giữa cánh đồng Tam bảo. Trên một đám khoai lang rộng vài sào. Một cô gái trẻ, con nhà giàu đang đuổi đánh mấy người, già có, trẻ có, trai có, gái có đang xông vào ăn cướp mấy củ khoai lang sống. Vây quanh đám đất những người nghèo ăn mặc rách rưới, hai bên đùi lép kẹp như chẳng còn tí thịt nào. Người nào vào thó được một củ, dù to hay nhỏ, chạy nhanh ra xa, lấy que rào cào lớp đất xung quanh củ khoai, rồi bỏ vào mồn nhai ngấu nghiến. Có người cố lê cái chân ra đám khoai, không còn đủ sức để vào cướp, mà chỉ ngồi đầu bờ cúi đầu rũ xuống, mong cô chủ rủ lòng thương.

Cũng có mấy người yếu quá mà cũng cúi đầu vào cướp bị đánh chảy máu thật tan thương. Một trong những người đó ngay hôm sau nằm chết ngay bên bụi tre Nhà Vỵ ở cách đám khoai không xa.

Quên sao được, một người con gái chống gậy lò dò qua cổng nhà tôi để song nhà anh họ là anh Thuận, mong kiếm được bát cơm. Nhưng, thời buổi đói kém này, làm chi có cơm, anh Thuận chỉ cho vài củ khoai lang. Nhìn tình hình chị ta sắp chết đến nơi rồi, không thể để trong nhà mình, , lỡ ra chết trong nhà mình, rồi các nhà chức trách đến buộc tội thì nguy to. Bảo người bà con ra khỏi nhà, chị ta không nghe, anh Thuận phải cõng chị ta ra mấy cái lều chợ Đàng.Chị ta lần mò về nhà anh Thuận.Anh Thuận lại phải cõng đi.Cứ thế, đến lần thứ tư, mệt quá không còn đi được nữa, con người khốn khổ ấy mới chịu nằm lại chợ.Rồi chiều hôm sau người ta thấy chị ta nằm chết trên cánh đồng Phát Lát thuộc đất làng Hà Xá, cách chợ đàng không xa. Lý trưởng làng Hà Xã biết tin, đương đên thêu người buộc dây thừng vào cổ cong người xấu số đó, mà kéo xềnh xệch sang đất Lương Điền, để làng Hà Xá khỏi phải chon cất. Ôi! Một con người chết năm Ất Dậu thật không bằng một con súc vật.

T

TT

Hằng ngày, hằng buổi, tin người hàng xóm, người bà con xa gần chết đói tới tấp.Những người chết trước còn cảm thấy thương xót. Về sau, nhiều quá rồi, cảm thấy như định mệnh rồi, không còn gì ăn nữa thì phải chết, hôm nay đến lượt họ, ngày mai, ngày mốt đến lượt mình. Chết trước được mồ mả, chết sau lấy lửa mà thiêu.Ở xóm Cơn Dùng có gia đình chin người chết tám, còn một. Có gia đình cô đơn chỉ có một người, lúc chết chẳng có ai chon, có gia đình thuê người chon ngay bên cạnh giường xấu số. Thế là xuất hiện một cái nghề mới: nghề chuyên đi chon người. Cứ chon một người khỏi mặt đất được xóm trả một quan tiền. Có người khi chết không có chiếc chiếu lành lặn để bó


người. Một góc về phía đông nam xóm có năm nhà bị chết bốn người.Có người không chết ai.Vì sợ quá phải bỏ đi nơi khác.Thành thử cả một xóm đi hết.

Nhiều người bạ gì ăn nấy, sinh sống trong điều kiện vệ sinh kém thua cả súc vật, nên họ dễ bị hành hạ than xác bởi các bệnh kiết lỵ, dịch tả, với những cái chết thật thảm thương. Một nỗi khổ nữa là thiếu áo quần thay đổi, chấy rận như sung, gân nên bệnh vàng da đi đến chết người.

Hết chuyện chết đói đến thời kỳ chết no vào sau nạn đói. Số là có người đang đói, đến mùa ăn cho thỏa thuê, sinh ra thái quá, không điều độ mà lại sinh bệnh mà chết.

Ôi! Nạn đói năm Ất Dậu thật khủng khiếp, lại sắp tới năm Ất Dậu rồi, sắp tròn sáu mươi tuổi rồi.Chưa thất một sách vở nào diễn tả, chưa có một cuốn phim nào nhắc lại.Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lân những điều đã biết, đã trải qua, để các lớp người sau thấy được cái khổ, cái nhục của dân mất nước.Cũng có thể hy vọng cung cấp một phần nhỏ nào, để rồi đây tin rằng có một nhà văn tài năng nào đó viết nên một cuốn truyện nổi tiếng về nạn đói thế kỷ này.

Ghi chú:

(1)Tc vlà lên ngôi, vua Duy Tân lên ngôi báu.

(2)Cây khủa giống như cây cau. Người ta dùng than cây khủa giã nhỏ thành bột rồi nấu lên như bánh đúc. Chẳng ngon như bánh đúc đâu. Nhưng đói thì phải ăn. Bản than người viết này cũng từng đã ăn một lần, bị kiết lỵ hai ngày, súy chết. Từ đó chết đói cũng không giám ăn khủa nữa.

(3)Đọi đàn là tiến địa phương Nghệ An – Hà Tĩnh, là cái bát bằng đất nung.

Mời quý vị xem tiếp:

1◊►-- Chuyện cũ làng quê - P1:Chuyện cũ làng quê, nguồn tư liệu quý

2◊►-- Chuyện cũ làng quê – P2:Lời của người viết

3◊►-- Chuyện cũ làng quê – P3:Làng Lương Điền

4◊►-- Chuyện cũ làng quê – P4:Làng Kẻ Sấp với truyền thuyết về ông Địa Tiên

5◊►-- Chuyện cũ làng quê – P5:Đường về quê

6◊►-- Chuyện cũ làng quê – P6:Hai anh em họ Trần

7◊►-- Chuyện cũ làng quê – P7:Một lời nguyền

8◊►-- Chuyện cũ làng quê – P8:Đền Ông Nghè – Đền Vọng Khoa

9◊►-- Chuyện cũ làng quê – P9:Cụ Huyện Đặng và 3 người con trai

10◊►-- Chuyện cũ làng quê – P10:Cụ Giải Chính với cuộc treo bảng thi Hương

11◊►-- Chuyện cũ làng quê – P11:Ông đội Cung ở đồn Lương Điền

12◊►-- Chuyện cũ làng quê – P12:Ông Đốc Mai

13◊►-- Chuyện cũ làng quê – P13:Thầy Đồ Nho cuối cùng

14◊►-- Chuyện cũ làng quê – P14:Phong trào Bình dân học vụ

15◊►-- Chuyện cũ làng quê – P15:Giành nhau Tiên chỉ Làng

16◊►-- Chuyện cũ làng quê – P16:Trù Lý Trưởng

17◊►-- Chuyện cũ làng quê – P17:Giỗ Tết ngày xưa

18◊►-- Chuyện cũ làng quê – P18:Phường sắc bùa ngày tết

19◊►-- Chuyện cũ làng quê – P19:Phường đi săn

20◊►-- Chuyện cũ làng quê – P20:Phường tranh

21◊►-- Chuyện cũ làng quê – P21:Phường kéo gỗ, hò kéo gỗ

22◊►-- Chuyện cũ làng quê – P22:Lễ tang bà nội

23◊►-- Chuyện cũ làng quê – P23:Chuyện o Sửu

24◊►-- Chuyện cũ làng quê – P24:Chỉ vì trùng tên

25◊►-- Chuyện cũ làng quê – P25:Đi phu thay em

26◊►-- Chuyện cũ làng quê – P26:Bà Cường đi kiện

27◊►-- Chuyện cũ làng quê – P27:Nạn đói thế kỷ

28◊►-- Chuyện cũ làng quê – P28:Lưu lạc

29◊►-- Chuyện cũ làng quê – P28:Nợ lúa trả đá

30◊►-- Chuyện cũ làng quê – P30:Nhút Thanh Chương

31◊►-- Chuyện cũ làng quê – P31:Quà bánh chợ Đàng

32◊►-- Chuyện cũ làng quê – P32:Nhà Hà Xóm lớn nhất làng

33◊►-- Chuyện cũ làng quê – P33:Kẻ Nhâm xóm nghèo nhất xã

Xin cảm ơn và gởi lời tri ân đến nhà văn Hồng Lam, một trong những người con ưu tú của đất Thanh Xuân!.


 

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM
Liên hệ
Hỏi đáp thường gặp
Giáo dục & Công nghệ
Giới thiệu

Lịch sử Xã Thanh Xuân

Lịch sử Huyện Thanh Chương

Lịch sử Xứ Nghệ

Các dòng Họ - Gia Tộc

Tin Tức - Sự Kiện

Tin Tức Của Hội

Tin Tức Quê Nhà

Tin Tức Xứ Nghệ

Văn Hóa-Giải Trí

Phong Tục - Tập Quán

Văn Học - Nghệ Thuật

Ẩm Thực Xứ Nghệ

Dân ca Ví Giặm Xứ Nghệ

CLB Dân Ca Thanh Xuân

Lời bài hát Dân ca Việt Nam

Dạy & Học hát Dân ca

MV - Video âm nhạc

Photos - Hình ảnh hoạt động

Sức Khỏe - Y Học

Sống Khỏe - Nhịp Sống Trẻ

Y Học Cổ truyền dân tộc

Tủ sách Cây Thuốc Nam

Footer